Công cụ |
Wikipedia:Chỗ thửĐây là trang bạn có thể thử thoải mái cách soạn bài trong Wikipedia.
để xem bài viết của bạn sẽ được lưu và hiển diện như thế nào sau khi bạn bấm nút Vì đây là trang để thử, nên bạn có thể lặp lại các trình tự trên, có thể tùy ý sửa xóa, thêm bớt nội dung như bạn muốn. Việc xóa sửa không mục đích như thế ở các bài viết khác có thể coi là hành động phá hoại, dù chủ ý hay vô ý, nên bạn hãy thử nhiều lần ở đây cho quen mà không phạm lỗi. Nội dung trong trang này sẽ bị xoá định kỳ. Sau khi đã thử quen, mời bạn đọc thêm:
Nếu bạn thấy phần hướng dẫn này khó hiểu, thiếu sót hoặc bạn cần một giải thích cụ thể nào, mong bạn vui lòng cho ý kiến tại bàn tham khảo. Mong các bạn nhiệt tình đóng góp!
[sửa] Hạ Quân Tường
Lý lịch trích ngang :
Tên : 賀軍翔 (贺军翔) Hạ Quân Tường/ He Jun Xiang Tên tiếng anh : Mike He Tên khác : 賀小美 Hạ Tiểu Mỹ/ He Xiao Mei Nghề nghiệp : diễn viên,người mẫu & là người dẫn các chương trình giải trí trên truyền hình. Ngày sinh : 1983-Dec-28 Nơi sinh : Taiwan Cao : 180cm Nặng : 66kg Chòm sao : Capricorn Nhóm máu : B Gia đình: Cha mẹ, em trai và em gái Website : http://www.mike-ho.com/ [sửa] Chỉ số niềm tin của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam (VN SOI)Chỉ số niềm tin của các nhà đầu tư chứng khoán (SOI – Stock Optimism Index là chỉ số đánh giá phạm vi và mức độ lạc quan của các nhà đầu tư về xu hướng thị trường chứng khoán trong tuần (hoặc tháng, năm v.v.) kế tiếp. Chỉ số SOI đo tại thị trường Việt Nam được gọi là chỉ số VN SOI (Vietnam Stock Optimism Index). Bản quyền chỉ số này thuộc về Công ty TNHH Tổ Hợp MARKCOM - MARKCOM GROUP (trước đây là Công ty TNHH Nghiên Cứu Thị Trường và Tư Vấn MARKCOM - Markcom Research & Consulting [[1])] SOI được cấu thành bởi 02 chỉ số phụ: (1) Chỉ số phạm vi lạc quan (OSI – Optimism Spreading Index) và (2) Chỉ số mức độ lạc quan (OII – Optimism Intensification Index). Cách tính OSI như sau: OSI = Tỷ lệ nhà đầu tư lạc quan về thị trường - Chỉ số lạc quan cân bằng Chỉ số lạc quan cân bằng (BOI – Balance Optimism Index) là hằng số mặc định bằng 50 (đây là giá trị tại thời điểm giả định rằng trên thị trường có 50% nhà đầu tư lạc quan và 50% nhà đầu tư bi quan về xu hướng của thị trường chứng khoán trong tuần kế tiếp). Như vậy OSI có giá trị lớn nhất là +50 (nếu toàn bộ các nhà đầu tư trên thị trường đều lạc quan) và giá trị nhỏ nhất là -50 nếu toàn bộ các nhà đầu tư trên thị trường đều bi quan. Ví dụ: Tại thời điểm 3/9/2007, nếu tỷ lệ nhà đầu tư lạc quan với thị trường là 65% thì OSI của tuần từ 3-9/9/2007 là 15 (65 - 50). Nếu tại thời điểm 10/9, tỷ lệ nhà đầu tư lạc quan là 66,8% thì OSI sẽ là 16,8 tăng 1,8 điểm so với tuần trước đó. Cách tính OII như sau: OII đạt giá trị cao nhất khi 100% nhà đầu tư lạc quan ở mức tuyệt đối (100%) về thị trường. Do lạc quan nên ký hiệu là (+100%). Khi đó OII = 100% x (+100%) = +1. OII đạt giá trị thấp nhất khi 100% nhà đầu tư bi quan ở mức tuyệt đối (100%) về thị trường. Do bi quan nên ký hiệu là (-100%). Khi đó OII = 100% x (- 100%) = -1 Như vậy, chỉ số OII lý tưởng của một thị trường có giá trị bằng 1. Tuy nhiên trên thực tế hiếm có một thị trường nào đạt được như vậy do đó OII sẽ lấy giá trị trong khoảng [-1; 1] trong đó OII = 0 sẽ phản ánh mức độ cân bằng của thị trường giữa bi quan và lạc quan. Giả định rằng trên 1 thị trường có các nhóm nhà đầu tư với tỷ lệ % của mỗi nhóm là i (i = 0…1) và mức độ lạc quan tương ứng với mỗi nhóm là j (j = -1 …1) thì công thức tính OII là: OII = ∑ i x j { i = 0…1; j = -1…1} Như vậy, khi xem xét chỉ số lạc quan của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán VN-SOI cần xem đồng thời hai chỉ số phụ là OSI và OII. OSI cho biết mức độ tăng giảm số nhà đầu tư lạc quan về thị trường chứng khoán nói chung còn OII cho biết mức độ (cường độ) lạc quan của họ. Để tiện cho người đọc, chỉ số SOI được biểu đạt tổng quát như sau: SOI dd/mm/yy = OSI m (u) OII n (v) Trong đó: - dd/mm/yy: là thời điểm bắt đầu tuần (tháng, năm) có hiệu lực của chỉ số - m: là chỉ số OSI (m có thể mang dấu – hoặc + tùy theo nhỏ hơn hoặc lớn hơn 50 - u: là chênh lệch tăng hay giảm của m so với tuần (tháng, năm) trước. u sẽ thêm dấu ▲hoặc ▼ tùy theo việc tăng hay giảm so với kỳ trước - n: là giá trị của OII (n có thể mang dấu – hoặc +) - v: là chênh lệch tăng hay giảm của n so với tuần (tháng, năm) trước. v sẽ thêm dấu ▲hoặc ▼ SOI dùng 2 màu xanh và đỏ để biếu đạt các tình huống diễn biến của chỉ số như sau (Dấu ngoặc đơn sẽ là màu đen). Ví dụ: SOI 03/09/06 = OSI + 10.5 (▲1.5) OII +0.65 (▲0.05) Hoặc SOI 10/09/06 = OSI – 5.5 (▲1.5) OII -0.35 (▼0.05) Phương thức đo lường SOI Để đo lường VN-SOI, một mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên được sử dụng đại diện cho các nhóm nhà đầu tư trên thị trường sẽ được chọn ngẫu nhiên và nghiên cứu theo qui trình nghiên cứu mẫu chuẩn. Việc xử lý dữ liệu được thực hiện theo các qui chuẩn quốc tế về phân tích thống kê --Thoa manager (thảo luận) 04:12, ngày 10 tháng 5 năm 2008 (UTC) [sửa] Bãi biển Thuận AnVị trí: Bãi biển Thuận An thuộc thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Đặc điểm: Thuận An là nơi tắm biển thú vị cho du khách sau một ngày tham quan kinh thành, lăng tẩm, chùa chiền, phong cảnh ở Huế. Bãi biển Thuận An nằm bên cạnh cửa biển Thuận An, nơi dòng sông Hương đổ ra phá Tam Giang rồi thông ra biển. Bãi biển cách Tp. Huế 15km và du khách có thể đi đến đó bằng ô tô. Chuyến đi bằng ô tô vừa nhanh và thú vị với một bên là cảnh dòng sông còn bên kia là quang cảnh nhà cửa, am miếu, đền chùa và những cánh đồng lúa. Trên đường về, du khách có thể ghé thăm khu du lịch suối nước nóng Mỹ An với lối kiến trúc nhà rường rất đặc trưng của Huế. Thuận An là nơi thu hút rất đông người dân xứ Huế về hóng mát và tắm biển vào dịp hè. Thời kỳ tấp nập nhất ở đây thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 lúc tiết trời nóng bức nhất. Ngoài ra du khách có thể đến tham quan miếu Thái Dương ở gần đó với sự tích nữ thần Thái Dương được dân làng hết sức sùng bái, hoặc thăm miếu Âm Linh thờ thần cá voi, con vật linh thiêng của dân miền biển. [sửa] ZZZZTôi đang thử Chữ đậmVăn bản liên kết == nkgsdg [sửa] bổ xung các cộng tác viên của nam phong tap chítrong MUC LUC PHÂN TÍCH TAP CHÍ NAM PHONG cua NguyêN KHĂC XUYÊN co viêt vê nhung tac gia chính ,ngoai PHAM QUYNH ,NGUYÊN HUU TIÊN ,NGUYÊN TRONG THUÂT , NGUYÊN BÁ HỌC ,còn có NGUYÊN ĐÔN PHUC. Vây đê nghi bô xung NGUYÊN ĐON PHUC [sửa] Người bánNgười bán là những người có nhu cầu và khả năng cung cấp một loại hàng hoá dịch vụ nào đó cho thị trường và chúng được bán ở các mức giá khác nhau mà họ có thể chấp nhận được. [sửa] Tiêu ĐềLiên trì dục nguyệt là một trong mười hai danh lam thắng cảnh xưa của tỉnh Quảng Ngãi. Mô tả: Liên có nghĩa là Sen; Trì có nghĩa là ao. Liên Trì có nghĩa là ao sen. Dục Nguyệt có nghĩa là đùa giỡn với trăng. Liên Trì Dục Nguyệt có nghĩa là Trăng đùa giỡn trong ao sen. Những ngày có trăng, đi ghe xuồng nhỏ trong ao sen, thấy trăng soi bóng, tạo nên một cảnh tượng nên thơ hữu tình. Vị Trí: Liên Trì Dục Nguyệt xưa là một ao sen lớn thuộc Thôn Liên Chiểu, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ. Từ Quốc lộ một A; phía ngoài cầu Trà Câu khoảng 1km; đi về hướng Tây khoảng 1-2km, phía bên này đường ray xe lửa, bên trái con đường chính là Liên Trì. Hiện nay; diện tích Liên Trì (ao sen) đã bị thu hẹp lại rất nhiều để làm đất ruộng nên Liên Trì chỉ còn là một cái hồ nhỏ; thắng cảnh này cũng dần bị lãng quên không ai còn nhớ. Nhà thơ Phạm Thiên Thư có bài thơ sau về thắng cảnh này: Trên nổi hồ mây, dưới đáy mây Lá sen lam biếc nguyệt chan đầy Sao khuya xuống đậu đôi viền lá Vạc lạnh về đưa mấy võng cây Lác đác đài hương vàng cánh đậm Lơ thơ nhành liễu biếc tơ gầy “Liên Trì Dục Nguyệt” trăng đưa lối Một chiếc thuyền con rẽ khói vây.
[sửa] Đời sống khó khănBạn đã được lĩnh lương chưa? Chưa. Tôi cũng vậy. Giá lương thực, thực phẩm đắt đỏ. Cái gì cũng đắt, chỉ có sức lao động các loại là rẻ thôi. [sửa] Quán nướngBarbecue Garden nhà hàng sân vườn rộng 650m2 toạ lạc tại trung tâm quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Cách không xa đường Lê Lợi và chợ Bến Thành, thấp thoáng trong khu vườn xinh đẹp nhà hàng hiện ra như một khám phá bất ngờ thú vị! Nằm giữa Sài Gòn, bao quanh bởi những hàng chuối và phượng vỹ xanh mát, thoang thoảng mùi thơm của thức ăn đang nướng, nhà hàng mang đến cho thực khách cảm giác hoàn toàn thư thái. Ban ngày nhà hàng là điểm dừng chân tuyệt vời để vừa giải khát vừa lướt web bằng hệ thống wi-fi miễn phí hay đọc sách báo do Thư Viện Quốc Gia tài trợ, tại Góc Thư Viện của nhà hàng. Quý khách hãy thử thưởng thức nước trái cây tươi, những viên kem Fanny mát lạnh hay thưởng thức trà, cà phê tại nhà hàng chúng tôi. Buổi tối nhà hàng là một vườn nướng tràn ngập không khí trong lành trong tiếng nhạc vui tươi sôi động. Hãy tận hưởng niềm vui bằng tiệc nướng! Để biết thêm thông tin chi tiết xin vui lòng truy cập website: www.barbecuegarden.com [sửa] Đặc điểm cấu tạo và hoạt động sống của vi sinh vậtVi sinh vật (Microogranisms) là tên gọi chung để chỉ tất cả các loại sinh vật nhỏ bé, chỉ có thể nhìn rõ dưới kính hiển vi quang học hoặc kính hiển vi điện tử. Vi sinh vật bao gồm nhiều nhóm khác nhau: Các virus (nhóm chưa có cấu tạo tế bào), các vi khuẩn và vi khuẩn lam (nhóm sinh vật nhân sơ), các vi nấm (nhóm sinh vật nhân chuẩn) và cả một số động vật nguyên sinh cũng như tảo đơn bào cũng thuộc nhóm này. Giữa các nhóm trên không có mối liên hệ chặt chẽ về mặt hình thái hay phân loại, nhưng người ta gộp chúng lại vì chúng cùng có một số phương pháp nuôi dưỡng, nghiên cứu và hoạt động sinh lý gần giống nhau và đều có các đặc điểm chung. 1. Đặc điểm chung của các vi sinh vật 1.1. Kích thước nhỏ bé Hình:Http://elearning.hueuni.edu.vn/file.php/24/visinhvathoccongnghiep/htm/c2 files/c2.htm4.jpg.jpg
Các Vi sinh vật có kích thước rất bé, đo bằng đơn vị nanomét (1nm = 10-9 m) như các virus hoặc micromet (1mm = 10-6 m) như các vi khuẩn, vi nấm. Chẳng hạn: - Các thể thực khuẩn (hay phage) T2, T4, T6 có kích thước biến thiên trong khoảng: (65 - 95) x (25 - 100) nm. - Các vi khuẩn có kích thước thay đổi trong khoảng (0,2 - 2) x (2,0 - 8,0) mm; trong đó vi khuẩn Escherichia coli rất nhỏ: 0,5 x 2,0mm. - Các tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae có đường kính 5 - 10mm. Kích thước càng bé thì diện tích bề mặt của vi sinh vật trong 1 đơn vị thể tích càng lớn. Chẳng hạn đường kính của 1 cầu khuẩn (Coccus) chỉ có 1mm, nhưng nếu xếp đầy chúng thành 1 khối lập nhưng có thể lích là 1cm3 thì chúng có diện tích bề mặt rộng tới ...6 m2 ! 1.2. Hấp thu nhiều, chuyển hóa nhanh Tuy vi sinh vật có kích thước rất nhỏ bé nhưng chúng lại có năng lực hấp thu và chuyển hoá vượt xa các sinh vật khác. Chẳng hạn 1 vi khuẩn lắctic (Lactobacillus) trong 1 giờ có thể phân giải được một lượng đường lactose lớn hơn 100-10 000 lần so với khối lượng của chúng, tốc độ tổng hợp protein của nấm men cao gấp 1000 lần so với đậu tương và gấp 100 000 lần so với trâu bò. Năng lực chuyển hóa sinh hóa mạnh mẽ của VSV dẫn đến các tác dụng vô cùng to lớn của chúng trong thiên nhiên cũng như trong hoạt động sống của con người. 1.3. Khả năng sinh sản nhanh Chẳng hạn, 1 trực khuẩn đại tràng (Escherichia coli ) trong các điều kiện thích hợp chỉ sau 12-20 phút lại phân cắt một lần. Nếu lấy thời gian thế hệ là 20 phút thì mỗi giờ phân cắt 3 lần, sau 24 giờ phân cắt 72 lần và tạo ra (4 722 366. 1017) tế bào- tương đương với 1 khối lượng ... 4722 tấn. Tất nhiên trong tự nhiên không có được các điều kiện tối ưu như vậy ( vì thiếu thức ăn, thiếu oxy, dư thừa các sản phẩm trao đổi chất có hại...). Trong nồi lên men với các điều kiện nuôi cấy thích hợp từ 1 tế bào có thể tạo ra sau 24 giờ khoảng 100 000 000- 1 000 000 000 tế bào. Thời gian thế hệ của nấm men dài hơn, ví dụ với men rượu (Saccharomyces cerevisiae) là 120 phút. Với nhiều vi sinh vật khác còn dài hơn nữa, ví dụ với tảo Tiểu cầu ( Chlorella ) là 7 giờ, với vi khuẩn lam Nostoc là 23 giờ...Có thể nói không có sinh vật nào có tốc độ sinh sôi nảy nở nhanh như vi sinh vật. Đây là đặc điểm quan trọng được con người lợi dụng để sản xuất nhiều sản phẩm hữu ích như rượu, bia, tương chao, mỳ chính, các chất kháng sinh...
Trong quá trình tiến hoá lâu dài vi sinh vật đã tạo cho mình những cơ chế điều hoà trao đổi chất để thích ứng được với những điều kiện sống rất khác nhau, kể cả những điều kiện hết sức bất lợi mà các sinh vật khác tgường không thể tồn tại được. Có vi sinh vật sống được ở môi trường nóng đến 1300C, lạnh đến 0-50C, mặn đến nồng độ 32% muối ăn, ngọt đến nồng độ mật ong, pH thấp đến 0,5 hoặc cao đến 10,7, áp suất cao đến trên 1103 at. hay có độ phóng xạ cao đến 750 000 rad. Nhiều vi sinh vật có thể phát triển tốt trong điều kiện tuyệt đối kỵ khí, có loài nấm sợi có thể phát triển dày đặc trong bể ngâm tử thi với nộng độ Formol rất cao... Vi sinh vật đa số là đơn bào, đơn bội, sinh sản nhanh, số lượng nhiều, tiếp xúc trực tiếp với môi trường sống ... do đó rất dễ dàng phát sinh biến dị. Tần số biến dị thường ở mức 10-5-10-10. Chỉ sau một thời gian ngắn đã có thể tạo ra một số lượng rất lớn các cá thể biến dị ở các hế hệ sau. Những biến dị có ích sẽ đưa lại hiệu quả rất lớn trong sản xuất. Nếu như khi mới phát hiện ra penicillin hoạt tính chỉ đạt 20 đơn vị/ml dịch lên men (1943) thì nay đã có thể đạt trên 100 000 đơn vị/ml. Khi mới phát hiện ra acid glutamic chỉ đạt 1-2g/l thì nay đã đạt đến 150g/ml dịch lên men (VEDAN-Việt Nam). 1.5. Phân bố rộng, chủng loại nhiều Vi sinh vật có mặt ở khắp mọi nơi trên Trái đất, trong không khí, trong đất, trên núi cao, dưới biển sâu, trên cơ thể, người, động vật, thực vật, trong thực phẩm, trên mọi đồ vật... Vi sinh vật tham gia tích cực vào việc thực hiện các vòng tuần hoàn sinh-địa-hoá học (biogeochemical cycles) như vòng tuần hoàn C, vòng tuần hoàn N, vòng tuần hoàn P, vòng tuần hoàn S, vòng tuần hoàn Fe... Trong nước vi sinh vật có nhiều ở vùng duyên hải (littoral zone), vùng nước nông (limnetic zone) và ngay cả ở vùng nước sâu (profundal zone), vùng đáy ao hồ (benthic zone)... Trong không khí thì càng lên cao số lượng vi sinh vật càng ít. Số lượng vi sinh vật trong không khí ở các khu dân cư đông đúc cao hơn rất nhiều so với không khí trên mặt biển và nhất là trong không khí ở Bắc cực, Nam cực... Hầu như không có hợp chất carbon nào (trừ kim cương, đá graphít...) mà không là thức ăn của những nhóm vi sinh vật nào đó (kể cả dầu mỏ, khí thiên nhiên, formol. dioxin...). Vi sinh vật có rất phong phú các kiểu dinh dưỡng khác nhau : quang tự dưỡng (photoautotrophy), quang dị dưỡng (photoheterotrophy), hoá tự dưỡng (chemoautotrophy), hoá dị dưỡng (chemoheterotrophy), tự dưỡng chất sinh trưởng (auxoautotroph), dị dưỡng chất sinh trưởng (auxoheterotroph)... 1.6. Là sinh vật xuất hiện đầu tiên trên trái đất Trái đất hình thành cách đây 4,6 tỷ năm nhưng cho đến nay mới chỉ tìm thấy dấu vết của sự sống từ cách đây khoảng 3,5 tỷ năm. Đó là các vi sinh vật hoá thạch còn để lại vết tích trong các tầng đá cổ. Vi sinh vật hoá thạch cổ xưa nhất đã được phát hiện là những dạng rất giống với Vi khuẩn lam ngày nay. Chúng được J.William Schopf tìm thấy tại các tầng đá cổ ở miền Tây Australia. Chúng có dạng đa bào đơn giản, nối thành sợi dài đến vài chục mm với đường kính khoảng 1-2 mm và có thành tế bào khá dày. Trước đó các nhà khoa học cũng đã tìm thấy vết tích của chi Gloeodiniopsis có niên đại cách đây 1,5 tỷ năm và vết tích của chi Palaeolyngbya có niên đại cách đây 950 triệu năm.
Các sinh vật nhân sơ và nhân chuẩn có một số đặc điểm giống nhau: đều có tế bào là đơn vị cấu tạo, chức năng là đơn vị di truyền; vật chất di truyền trong các tế bào là DNA xoắn kép cùng các sản phẩm của nó là RNA, protein... Tuy nhiên giữa chúng có nhiều nét sai khác rất rõ. Thậm chí ngay cả các tế bào nhân chuẩn nhỏ nhất cũng khác biệt một cách căn bản so với các tế bào nhân sơ trong cấu tạo, cách tổ chức thông tin di truyền cũng như trong các kiểu tổng hợp RNA và protein của chúng (bảng).
Đặc điểm Sinh vật nhân sơ Sinh vật nhân chuẩn 1. Tổ chức di truyền - Màng nhân Không có Có - Số nhiễm sắc thể khác nhau 1 > 1 - Các nhiễm sắc thể chứa histon Không có Có - Hạch nhân Không có Có - Trao đổi di truyền Một chiều, qua plasmid Bằng sự kết hợp giao tử 2. Các cấu trúc của tế bào - Lưới nội chất Không có Có - Bộ máy Golgi Không có Có - Các lysosome Không có Có - Các ty thể Không có Có - Các lạp thể Không có Có ở thực vật - Kích thước ribosome 70 S 80 S - Sợi thoi vô sắc Không có Có -Vách tế bào chứa peptidoglycan Có, ngoại trừ Mycoplasma và vi khuẩn cổ Không có 3. Một số đặc tính chức năng - Thực bào Không có Đôi khi có - Ẩm bào (uống bào) Không có Đôi khi có - Vị trí vận chuyển điện tử Màng tế bào Màng bào quan - Dòng tế bào chất Không có Có (Nguồn: Stanier et al, 1976; dẫn theo Watson et al, 1987. p. 97) [sửa] Đặc điểm cấu tạo và hoạt động sống của vi sinh vậtVi sinh vật (Microogranisms) là tên gọi chung để chỉ tất cả các loại sinh vật nhỏ bé, chỉ có thể nhìn rõ dưới kính hiển vi quang học hoặc kính hiển vi điện tử. Vi sinh vật bao gồm nhiều nhóm khác nhau: Các virus (nhóm chưa có cấu tạo tế bào), các vi khuẩn và vi khuẩn lam (nhóm sinh vật nhân sơ), các vi nấm (nhóm sinh vật nhân chuẩn) và cả một số động vật nguyên sinh cũng như tảo đơn bào cũng thuộc nhóm này. Giữa các nhóm trên không có mối liên hệ chặt chẽ về mặt hình thái hay phân loại, nhưng người ta gộp chúng lại vì chúng cùng có một số phương pháp nuôi dưỡng, nghiên cứu và hoạt động sinh lý gần giống nhau và đều có các đặc điểm chung. 1. Đặc điểm chung của các vi sinh vật 1.1. Kích thước nhỏ bé Các Vi sinh vật có kích thước rất bé, đo bằng đơn vị nanomét (1nm = 10-9 m) như các virus hoặc micromet (1mm = 10-6 m) như các vi khuẩn, vi nấm. Chẳng hạn: - Các thể thực khuẩn (hay phage) T2, T4, T6 có kích thước biến thiên trong khoảng: (65 - 95) x (25 - 100) nm. - Các vi khuẩn có kích thước thay đổi trong khoảng (0,2 - 2) x (2,0 - 8,0) mm; trong đó vi khuẩn Escherichia coli rất nhỏ: 0,5 x 2,0mm. - Các tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae có đường kính 5 - 10mm. Kích thước càng bé thì diện tích bề mặt của vi sinh vật trong 1 đơn vị thể tích càng lớn. Chẳng hạn đường kính của 1 cầu khuẩn (Coccus) chỉ có 1mm, nhưng nếu xếp đầy chúng thành 1 khối lập nhưng có thể lích là 1cm3 thì chúng có diện tích bề mặt rộng tới ...6 m2 ! 1.2. Hấp thu nhiều, chuyển hóa nhanh Tuy vi sinh vật có kích thước rất nhỏ bé nhưng chúng lại có năng lực hấp thu và chuyển hoá vượt xa các sinh vật khác. Chẳng hạn 1 vi khuẩn lắctic (Lactobacillus) trong 1 giờ có thể phân giải được một lượng đường lactose lớn hơn 100-10 000 lần so với khối lượng của chúng, tốc độ tổng hợp protein của nấm men cao gấp 1000 lần so với đậu tương và gấp 100 000 lần so với trâu bò. Năng lực chuyển hóa sinh hóa mạnh mẽ của VSV dẫn đến các tác dụng vô cùng to lớn của chúng trong thiên nhiên cũng như trong hoạt động sống của con người. 1.3. Khả năng sinh sản nhanh Chẳng hạn, 1 trực khuẩn đại tràng (Escherichia coli ) trong các điều kiện thích hợp chỉ sau 12-20 phút lại phân cắt một lần. Nếu lấy thời gian thế hệ là 20 phút thì mỗi giờ phân cắt 3 lần, sau 24 giờ phân cắt 72 lần và tạo ra (4 722 366. 1017) tế bào- tương đương với 1 khối lượng ... 4722 tấn. Tất nhiên trong tự nhiên không có được các điều kiện tối ưu như vậy ( vì thiếu thức ăn, thiếu oxy, dư thừa các sản phẩm trao đổi chất có hại...). Trong nồi lên men với các điều kiện nuôi cấy thích hợp từ 1 tế bào có thể tạo ra sau 24 giờ khoảng 100 000 000- 1 000 000 000 tế bào. Thời gian thế hệ của nấm men dài hơn, ví dụ với men rượu (Saccharomyces cerevisiae) là 120 phút. Với nhiều vi sinh vật khác còn dài hơn nữa, ví dụ với tảo Tiểu cầu ( Chlorella ) là 7 giờ, với vi khuẩn lam Nostoc là 23 giờ...Có thể nói không có sinh vật nào có tốc độ sinh sôi nảy nở nhanh như vi sinh vật. Đây là đặc điểm quan trọng được con người lợi dụng để sản xuất nhiều sản phẩm hữu ích như rượu, bia, tương chao, mỳ chính, các chất kháng sinh...
Trong quá trình tiến hoá lâu dài vi sinh vật đã tạo cho mình những cơ chế điều hoà trao đổi chất để thích ứng được với những điều kiện sống rất khác nhau, kể cả những điều kiện hết sức bất lợi mà các sinh vật khác tgường không thể tồn tại được. Có vi sinh vật sống được ở môi trường nóng đến 1300C, lạnh đến 0-50C, mặn đến nồng độ 32% muối ăn, ngọt đến nồng độ mật ong, pH thấp đến 0,5 hoặc cao đến 10,7, áp suất cao đến trên 1103 at. hay có độ phóng xạ cao đến 750 000 rad. Nhiều vi sinh vật có thể phát triển tốt trong điều kiện tuyệt đối kỵ khí, có loài nấm sợi có thể phát triển dày đặc trong bể ngâm tử thi với nộng độ Formol rất cao... Vi sinh vật đa số là đơn bào, đơn bội, sinh sản nhanh, số lượng nhiều, tiếp xúc trực tiếp với môi trường sống ... do đó rất dễ dàng phát sinh biến dị. Tần số biến dị thường ở mức 10-5-10-10. Chỉ sau một thời gian ngắn đã có thể tạo ra một số lượng rất lớn các cá thể biến dị ở các hế hệ sau. Những biến dị có ích sẽ đưa lại hiệu quả rất lớn trong sản xuất. Nếu như khi mới phát hiện ra penicillin hoạt tính chỉ đạt 20 đơn vị/ml dịch lên men (1943) thì nay đã có thể đạt trên 100 000 đơn vị/ml. Khi mới phát hiện ra acid glutamic chỉ đạt 1-2g/l thì nay đã đạt đến 150g/ml dịch lên men (VEDAN-Việt Nam). 1.5. Phân bố rộng, chủng loại nhiều Vi sinh vật có mặt ở khắp mọi nơi trên Trái đất, trong không khí, trong đất, trên núi cao, dưới biển sâu, trên cơ thể, người, động vật, thực vật, trong thực phẩm, trên mọi đồ vật... Vi sinh vật tham gia tích cực vào việc thực hiện các vòng tuần hoàn sinh-địa-hoá học (biogeochemical cycles) như vòng tuần hoàn C, vòng tuần hoàn N, vòng tuần hoàn P, vòng tuần hoàn S, vòng tuần hoàn Fe... Trong nước vi sinh vật có nhiều ở vùng duyên hải (littoral zone), vùng nước nông (limnetic zone) và ngay cả ở vùng nước sâu (profundal zone), vùng đáy ao hồ (benthic zone)... Trong không khí thì càng lên cao số lượng vi sinh vật càng ít. Số lượng vi sinh vật trong không khí ở các khu dân cư đông đúc cao hơn rất nhiều so với không khí trên mặt biển và nhất là trong không khí ở Bắc cực, Nam cực... Hầu như không có hợp chất carbon nào (trừ kim cương, đá graphít...) mà không là thức ăn của những nhóm vi sinh vật nào đó (kể cả dầu mỏ, khí thiên nhiên, formol. dioxin...). Vi sinh vật có rất phong phú các kiểu dinh dưỡng khác nhau : quang tự dưỡng (photoautotrophy), quang dị dưỡng (photoheterotrophy), hoá tự dưỡng (chemoautotrophy), hoá dị dưỡng (chemoheterotrophy), tự dưỡng chất sinh trưởng (auxoautotroph), dị dưỡng chất sinh trưởng (auxoheterotroph)... 1.6. Là sinh vật xuất hiện đầu tiên trên trái đất Trái đất hình thành cách đây 4,6 tỷ năm nhưng cho đến nay mới chỉ tìm thấy dấu vết của sự sống từ cách đây khoảng 3,5 tỷ năm. Đó là các vi sinh vật hoá thạch còn để lại vết tích trong các tầng đá cổ. Vi sinh vật hoá thạch cổ xưa nhất đã được phát hiện là những dạng rất giống với Vi khuẩn lam ngày nay. Chúng được J.William Schopf tìm thấy tại các tầng đá cổ ở miền Tây Australia. Chúng có dạng đa bào đơn giản, nối thành sợi dài đến vài chục mm với đường kính khoảng 1-2 mm và có thành tế bào khá dày. Trước đó các nhà khoa học cũng đã tìm thấy vết tích của chi Gloeodiniopsis có niên đại cách đây 1,5 tỷ năm và vết tích của chi Palaeolyngbya có niên đại cách đây 950 triệu năm.
Các sinh vật nhân sơ và nhân chuẩn có một số đặc điểm giống nhau: đều có tế bào là đơn vị cấu tạo, chức năng là đơn vị di truyền; vật chất di truyền trong các tế bào là DNA xoắn kép cùng các sản phẩm của nó là RNA, protein... Tuy nhiên giữa chúng có nhiều nét sai khác rất rõ. Thậm chí ngay cả các tế bào nhân chuẩn nhỏ nhất cũng khác biệt một cách căn bản so với các tế bào nhân sơ trong cấu tạo, cách tổ chức thông tin di truyền cũng như trong các kiểu tổng hợp RNA và protein của chúng (bảng).
Đặc điểm Sinh vật nhân sơ Sinh vật nhân chuẩn 1. Tổ chức di truyền - Màng nhân Không có Có - Số nhiễm sắc thể khác nhau 1 > 1 - Các nhiễm sắc thể chứa histon Không có Có - Hạch nhân Không có Có - Trao đổi di truyền Một chiều, qua plasmid Bằng sự kết hợp giao tử 2. Các cấu trúc của tế bào - Lưới nội chất Không có Có - Bộ máy Golgi Không có Có - Các lysosome Không có Có - Các ty thể Không có Có - Các lạp thể Không có Có ở thực vật - Kích thước ribosome 70 S 80 S - Sợi thoi vô sắc Không có Có -Vách tế bào chứa peptidoglycan Có, ngoại trừ Mycoplasma và vi khuẩn cổ Không có 3. Một số đặc tính chức năng - Thực bào Không có Đôi khi có - Ẩm bào (uống bào) Không có Đôi khi có - Vị trí vận chuyển điện tử Màng tế bào Màng bào quan - Dòng tế bào chất Không có Có (Nguồn: Stanier et al, 1976; dẫn theo Watson et al, 1987. p. 97) [sửa] Vịnh Cát GiaVịnh Cát Gia ở huyện Cát Hải, nằm ở phía Tây Nam rừng nguyên sinh trên núi đá vôi. Ở đây, cảnh rất đẹp tươi [sửa] Vịnh Vân PhongVịnh Vân Phong gần đường hàng hải quốc tế nhất vì : Từ Hồng Kông đi Singapore thì tàu biển sẽ đi sát hải phận Việt Nam vì tàu cần lợi dụng dòng hải lưu chạy ven bờ từ bắc xuống nam.Do đó tuyến đường hàng hải từ Hồng Kông đi Singapore chỉ cách Vịnh Vân Phong 12 hải lý.Còn tuyến hàng hải từ Singapore đi Hồng Kong cần tránh xa dòng hải lưu từ bắc xuống nam nên buộc phải chạy cách xa vịnh Vân Phong 160 hải lý.Khi chưa có gió đông bắc thì từ Singapore đi Hồng Kông tàu có thể chạy gần vinh Vân Phong hơn. Vinh Vân Phong là điểm cực đông của bán đảo Đông Dương nên vịnh Vân Phong gần đường hàng hải quốc tế so với các cảng khác của Việt Nam.Tuyến đường hàng hải từ Đông Nam Á sang Châu Mỹ về nguyên tắc các tàu phải qua Guam sau đó đến Honolulu,rồi từ Honolulu rẽ đi Panama hay San Francíco hoặc Vitoria. Khoãng cách từ Hông Kông đến Honolulu qua Manila và Guam là 5453 hải lý Đông Nam Á qua Châu Mỹ thì vịnh Vân Phong là gần nhất. Có thể hình dung với một tam giác cân, hai góc đáy là hai cảng Hong Kông và Singapore, chân đường trung trực là vinh Vân Phong và đỉnh tam giác là Châu Mỹ Vịnh Vân Phong có diện tích toàn bộ mặt nước là 43544 ha với độ sâu giới hạn là 40 m. Độ sâu giới hạn là độ sâu lớn nhất ở cửa vịnh bị bồi lấp bỡi các yếu tố đại dương. Muốn thay đổi độ sâu giới hạn phải xây đê chắn cát lấn ra phía biển.Bão vùng bắc bán cầu xóay theo chiều ngược kim đông hồ.Vịnh Vân Phong và vinh Cam Ranh có cửa vịnh quay về hướng nam nên là các vịnh chống bão tốt nhất trong các vịnh ở Việt Nam và không bị bồi lấp bỡi dòng hải lưu từ bắc xuống nam.Vịnh Vân Phong không có dòng sông lớn nào chảy vào vịnh nên độ sâu ổn định.So với các cảng trên Thế giới, vinh Vân Phong là một cảng tự nhiên nằm ngay trên đường hàng hải quốc tế,có độ sâu nhất tự nhiên ổn định nhất và độ rộng mặt nước lớn nhất. Chính những yếu tố trên giúp vinh Vân Phong có tiềm năng trở thành một cảng trung chuyển công -tai-nơ của Đông Nam Á. [sửa] Dịch vụ ADSLThưa anh,chị!
** Tặng modem 4 cổng **
*Anh chị và người thân đang có nhu cầu lắp đặt dịch vụ ADSL của FPT Telecom?
*Anh chị đã và đang dùng dịch vụ ADSL của FPT Telecom?
*Anh chị đang có những thắc mắc cần giải đáp về dịch vụ ADSL của FPT Telecom?
Từ 01/05/2008 FPT Telecom (Hà Nội) khuyến mại tặng modem 4 cổng cho khách hàng đăng ký mới ADSL của FPT Telecom!
2. MegaME -->>Tốc độ tối đa (nhận/gửi) 5.120 Kbps/ 640 Kbps (kbps) Phí lắp đặt chỉ còn: 250.000 đ - Thuê Trọn gói:(dùng thoải mái) 350.000 đ/tháng - Thuê lưu lượng: (dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu) + Cước thuê bao: 80.000đ/tháng + Cước sd tối đa: 320.000 đ/tháng + Phí lưu lượng (Tính trên 1M gửi và nhận): 80 đ/M 3. MegaNET -->>Tốc độ tối đa(nhận/gửi)3072/640 (kbps) - Phí lắp đặt: 1.600.000đ - Trọn gói: 1.000.000 đ/tháng - Thuê bao:250.000đ/tháng - Tối đa: 1.200.000 đ/tháng - Phí lưu lượng (Tính trên 1M gửi và nhận) - 5GB đầu: 80đ/ M - 5GB tiếp: 60đ/ M - 20GB tiếp theo: 40đ/M trên 30GB miễn phí 4. MegaOFFICE -->>Tốc độ tối đa(nhận/gửi)3072/640 (kbps) - Phí lắp đặt: 2.400.000đ - Trọn gói: 3.000.000 đ/tháng - Thuê bao:1.000.000đ/tháng - Tối đa: không áp dụng - Phí lưu lượng (Tính trên 1M gửi và nhận) - 5GB đầu: 200đ/ M - 5GB tiếp: 150đ/ M - 20GB tiếp theo: 100đ/M trên 30GB miễn phí Hãy liên hệ ngay để được tư vấn, giải đáp và chăm sóc một cách tốt nhất! Chi tiết vui lòng liên hệ: Công ty CP Viễn thông FPT Chi nhánh tại Hà Nội Liên hệ: Nguyễn Văn Tuyển Điện thoại: 04-9179001 Mobile:094.556.1962 Email: nvtuyen@fpt.net - YM:Tuyenbui1207 Đăng ký tại TP Hồ Chí Minh:
Đăng ký tại Hải Phòng: - Tel : (031) 381 1111 Máy lẻ : 3112 ; 3113 ; 3114; 3115 - Hotline : (031) 3205818; - Email: haiphong@fpt.net [sửa] Lê Triều Hoàng HậuTheo một số tư liệu ở Ân Phú thì Lê Triều Hoàng Hậu có dị hiệu là Ngô Thị Quận quân, có thể là bà Ngô Thị Ngọc Giao, mẹ đẻ của Vua Lê Thánh Tông, tại đân có bài vị thờ bà là "Bản xã thuận ứng điện Lê Triều Hoàng Hậu - Ngô Thị Quận quân", kỵ nhật của bà ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm, trong long văn thờ có cung thỉnh quý nữ Lê Thị Ngọc Quỳnh đồng lai tùng tự. Chữ Quận ở đây được viết một từ là "君巴", trong từ điển hán-việt hiện nay không có. [sửa] Phản ứng hóa học trong SGK lớp 8.1/Phản ứng phân huỷ. -Phản ứng phân huỷ là PƯHH trong đó một chất sinh ra 2 hay nhiều chất mới. 2/Phản ứng thế. -Phản ứng thế là PƯHH trong đó nguyên tử của đơn chất thay thế cho nguyên tử của nguyên tố trong hợp chất. 3/Phản ứng oxi-hoá khử. -Phản ứng oxi-hoá khử là PƯHH trong đó xảy ra đồng thời sự oxi-hoá và sự khử. 4/Phản ứng hoá hợp. -Phản ứng hoá hợp là PƯHH trong đó một sản phẩm được tạo thành từ 2 hay nhiều chất ban đầu. [sửa] công nghệ thông tintên người dùng : nguyễn văn long lớp :34tin học ứng dụng trường :cao đẳng điện tử điện lạnh hà nội anh a [sửa] tử cấm thành nhà thanhTử Cấm Thành là khu phức hợp rộng lớn nhất trong số các công trình lịch sử còn nguyên vẹn trên thế giới, gồm 800 công trình với 9.000 phòng. Đây là một ốc đảo yên tĩnh tọa lạc ngay giữa kinh thành náo nhiệt của Trung Quốc, Bắc Kinh. Ngày nay gọi là cố cung (Gu gong) đặt theo tên gọi trước kia Tử Cấm Thành (Zi jin cheng) do cấm thường dân vào trừ khi họ được phép. Nguyên tắc xây dựng cơ bản Trung Hoa liên kết hợp các công trình này với quá khứ cổ đại của Trung Quốc. Công trình là một ví dụ minh họa kiến trúc Trung Hoa truyền thống, với một khung gỗ làm gối đỡ trọng lượng mái, được xây dựng sử dụng hệ thống gối đỡ phức tạp, phần mái nhô ra khỏi tường uốn vòng lên, mái dốc, mái ngói trang trí, chèn gạch và đá vào các vách tường.
Trong hơn 500 năm, từ lúc hoàn tất năm 1421 chi đến năm 1925, khi trở thành một bảo tàng viện, Tử Cấm Thành vừa là trung tâm hành chính của Chính phủ, vừa là tư dinh của 24 hoàng đế nhà Minh và Thanh. Hoàng đế cuối cùng của Trung Hoa, Aisin Gioro Phổ Nghi sống ở đây cho đến khi năm tuổi trong tư cách hoàng đế và bị quản thúc trong Tử Cấm Thành thêm một lần nữa sau khi thành lập nước Cộng hòa năm 1911. nhưng sau cùng bị các tư lệnh ép buộc phải chạy về Thiên Tân năm 1924. Năm sau, Tử Cấm Thành trở thành một bảo tàng viện. Ngày nay là bảo tàng viện lớn nhất trên thế giới, thuộc về một quốc gia đông dân nhất thế giới, là nơi cất giữ báu vật nghệ thuật quan trọng nhất của Trung Quốc, cổ vật và hội họa, hàng năm có đến 10 triệu khách tham quan. Năm 1987, Unesco tuyên bố Tử Cấm Thành là một trong những di sản văn hóa thế giới. Lịch sử thi công Công trình khởi công vào năm 1406, theo lệnh của hoàng đế Yongle, Zhy Di - một viên tướng quyền thế cũng là một chiến lược chính trị gian xảo, chiếm đoạt ngai vàng từ tay cháu trai của mình với chứng cứ giả mạo trong cuộc nội chiến đẫm máu. Ban đầu, hoàng đế Yongle vẫn giữ kinh thành hiện có ở Nam Kinh, nhưng ít lâu sau nhận thấy có khả năng miền Nam không trung thành nên phải dời đô lên miền Cổng lợp ngói màu gốm, trên có khắc chữ Trung Hoa và chữ viết Mãn Châu. Bắc đến Bắc Kinh gần căn cứ quyền lực của riêng mình. Cung điện mới xây dựng trên địa điểm các hoàng cung của nhà Nguyên trước đây đã bị hoàng đế đầu tiên của nhà Minh phá hủy - Hongwu trong lúc chinh phục người Mông Cổ. Công trình nhìn thấy ngày nay phần lớn có niên đại từ thế kỷ 15. Vì công trình chủ yếu làm bằng gỗ, một vài trận hỏa hoạn tàn phá phải đại tu trong suốt 600 năm lịch sử của Tử Cấm Thành. Chẳng hạn, hoàng đế Càn Long (khoảng 1736 - 1796) tân trang, xây lại và mở rộng Tử Cấm Thành, xây dựng thêm các công viên diễm lệ và Bình phong Cửu Long, dài 27,5m x 5,5m cao; trang trí bằng ngói gốm màu. Con trai cũng là người lên kế vị ông, hoàng đế Gia Khánh từ năm 1797 đến 1799, cũng xây dựng lại 3 đại sảnh chính sau khi bị hỏa hoạn. Chọn hướng và màu sắc Theo nguyên tắc chọn hướng kiến trúc truyền thống Trung Hoa. Tử Cấm Thành được bố trí ít nhiều phải thật cân đối trên trục Bắc Nam. Tĩnh sơn (jing shan), hình thành từ số đất đào từ một hào rộng bao quanh khu phức hợp hoàng cung, nằm về hướng Bắc trong khi quảng trường Thiên An Môn nằm ở phía Nam. Diện tích khuôn viên tương đương với hơn 100 sân bóng đá. Về cơ bản được hình thành từ một loạt công trình bố trí trong sân chia thành 2 phần chính: Cung điện phía trước quay mặt về hướng Nam (Tiền Triều), và cung điện phía trong (Nội sảnh) quay về hướng Bắc. Tiền triều gồm 3 đại sảnh xây trên nền đá hoa cương 3 tầng, sử dụng trong các nghi lễ quân và dân sự cũng như tiếp kiến. Nội sảnh xoay quanh 3 cung điện lớn đặt trên một nền 1 tầng đơn làm nơi ở của nhà vua, các cung điện khác có tiện nghi kém trang trọng hơn dành cho hoàng gia cũng như là nhà kho, thư viện, công viên và đền miếu để thờ cúng hoàng tộc. Nước được cung cấp từ một bể chứa nằm ở hướng Tây Bắc, sau đó hướng về phía Nam của khu phức hợp, ở đâu có một chiếc cầu bằng đá cẩm thạch chạm khắc xinh xắn bắc ngang qua. Bảo vệ công trình Tử Cấm Thành là một hào rộng và vách thành dày làm bằng đất nện trộn gạch, có cổng vào hình vòm rất lớn ở các phương hướng chính và tháp canh cao đặt ở 4 góc. Băng qua một không gian bao la, Thái hòa điện tọa lạc ở phần đỉnh của 2 đợt bậc thang bằng đá hoa cương và một lối đi dành để khiêng kiệu vua được canh gác nghiêm ngặt có chạm khắc ở giữa. Không gian lộ thiên nhấn mạnh công trình quy mô, khi du khách đi từ hướng Nam đến hướng Bắc, trong khi các công trình thấp ở các bên nhấn mạnh vẻ hùng vĩ của 3 sảnh tiếp kiến trong cung điện. Sảnh thứ nhất trong số này là Thái hòa điện (Taihedian), là dinh thự lớn nhất và ấn tượng nhất trong khu phức hợp, chiếm một diện tích 2.730m2 tương đương với 9 sân tennis, đo được 64m chiều rộng x 37m chiều dài. Quy mô, hình dáng, trang trí và đồ gỗ nội thất của điện tất cả đều tạo cảm giác uy quyền và tính hơn hẳn của hoàng đế bao trùm lên tất cả những người khác đang được triệu tập trong các nghi lễ đến tuổi trưởng thành, thông báo kết quả các cuộc khảo thí dân sự và đón tiếp quan chức mới bổ nhiệm. Suốt triều đại nhà Thanh (1368 - 1644) Tử Cấm Thành được sử dụng trong 3 dịp lễ hội chính: Hoa văn trên Bình phong Cửu Long. Tết, Sinh nhật nhà vua và Ngày Đông Chí. Đối với các dịp lễ đặc biệt, trong sân Thái hòa điện chứa đến 100.000 người, kể cả việc binh mặc quân phục và vô số nhạc công cung đình. Ở những thời điểm như vậy, không khí như được quyện với mùi trầm hương được đốt lên trong các lư hương lớn. Phía sau điện này, điện giữa, gọi Trung hòa điện (Zhonghe dian) dùng để chuẩn bị trước các nghi lễ chính. Công trình hành chính sau cùng, Bão hòa điện (Baohe dian) là nơi tổ chức yến tiệc cầu kỳ và dành cho sỹ tử ngồi làm bài thi trong các kỳ thi quốc gia, nếu thi đậu, sẽ đảm bảo một sự nghiệp thuận lợi trong chế độ quan lại của quốc gia. Từ điện này có 2 cầu thang có đường dốc ngay giữa, chạm khắc 9 con rồng đang săn đuổi hạt châu trên mây báo điềm lành. Hoàng đế được những người khiêng kiệu khiêng đi bên trên biểu tượng uy quyền và vận may này. Đường dốc chế tác từ đá hoa cương Fangsan, trọng lượng khoảng 200-250 tấn. Việc lắp đặt chứng tỏ hoàng đế có sẵn nguồn tài nguyên và đội ngũ thi công của ông. Phải cần đến 20.000 người trong 28 ngày kéo lê tảng đá này đi hơn 48km mới đến vị trí lắp đặt. Giới học giả cho tằng công việc này tiến hành vào mùa Đông vì lúc ấy có thể làm đường đi trên băng để trượt đá. Số liệu thực tế: Diện tích: 250.000m2 Chiều rộng hào: 54m Chiều cao tường: 10m Số công trình: 800 Số phòng: 9.000 Nhân lực: ước tính 1.000.000 Ngoài các sảnh chính thức còn có 3 cung khác. Cung thứ nhất, Thiên tinh cung (Qian qing gong), vốn là nơi ở chính thức của hoàng đế nhà Minh. Ở đây, năm 1542, hoàng đế Chi tiết mái ngói màu vàng đục trong Tử Cấm Thành Gia Khánh chuyên chế không được lòng dân sống sót sau khi bị ám sát do một nhóm cung nữ tìm cách siết cổ ông nhưng bất thành vì các nút thắt không khéo. Một khi phản bội, tất cả đều bị hành hình. Cung thứ 2 là Hiệu thái điện (Jiao tai dian) dùng để tiếp nhận những lời chúc sinh nhật của các nghi tần và công chúa, cũng là nơi cất giữ 25 dấu ấn của vua từ năm 1746. Khôn ninh cung (Kunning gong) là phòng ngủ của các hoàng hậu nhà Minh. Hoàng hậu của hoàng đế nhà Minh sau cùng tự vẫn tại đây khi quân Mãn Châu đang tiến đến gần. Sau này dưới nhà Thanh, nơi đây dùng làm phòng hoa chúc cho 3 đêm đầu sau hôn lễ. Ở 2 bên phòng này có lục cung Đông và lục cung Tây, nơi các phi tần cùng thành viên khác trong hoàng gia sinh sống. Trái với các hoàng cung đương đại xây dựng ở phương Tây, Tử Cấm Thành nhiều màu sắc không thể tin nổi khi nhìn từ bên ngoài, tường màu đỏ, cột màu tía, mái nhà cong ngược lên trang trí bằng ngói gốm màu vàng lấp lánh với nhiều hình vẽ trang trí. Ngói đất sét lợp mái hình bán nguyệt uốn cong, phỏng theo hình ảnh măng tre cắt đôi, lợp mái xen kẽ theo vị trí âm (ngói ngửa) dương (ngói úp). Ngói phủ kín các đầu mút của mái dốc theo hình long ngư chẳng hạn với hy vọng phong tỏa. Màu sắc trên mái, vách và cột được làm nổi bật hơn nữa bằng đá hoa cương và gạch màu xám nhạt sử dụng để lót chân giữa các công trình. Yến tiệc xa hoa của triều đình luôn được tổ chức thường xuyên trong Tử Cấm Thành. Năm 1796 có hơn 5.000 quan khách độ tuổi 60 trở lên được mời làm thực khách với 800 bàn để kỷ niệm lễ trao quyền lực từ vua Càn Long sang hoàng đế Gia Khánh.
"Không một kinh thành nào trong số các kinh thành châu Âu của chúng ta được nghĩ ra và thiết kế với sự phô bày rực rỡ luôn áp đảo như thế, nhất là sự phô bày nhằm truyền đạt một ấn tượng oai nghiêm, đường bệ của hoàng đế" - Pierre Loti, 1902. [sửa] Bến TắmDia danh thuoc Thi tran Ben Tam, huyen Chi Linh, tinh Hai Duong. Tuong truyen vao the ky 13 Quoc cong tiet che Hung Dao Dai Vuong Tran Quoc Tuan cam quan di danh tran Bach Dang da dung chan cam trai o day va noi quan sy cua ong tam rua duoc nguoi doi sau goi la Ben Tam |
| Plaza 3 star hotel Los Angeles www.triptake.com | krynica noclegi krynica noclegi,orodek, wypoczynk… gornik.com.pl | Gry Online Gry Online www.pozycjonarka.in… | usb usb, usb www.krj.pl | kreatyna kreatyna www.activebody.pl |