Ngôn ngữ khác

Phạm Văn Nghị

Phạm Văn Nghị (1805-1884)[1] hiệu Nghĩa Trai, là một nhà giáo, nhà thơ và là một vị quan nhà Nguyễn theo đường lối kháng Pháp tại Việt Nam.


Mục lục

[sửa] Tiểu sử

Phạm Văn Nghị quê xã Tam Đăng, huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định. Là con của một ông đồ nghèo, nhưng nhờ chăm chỉ học nên năm 1826, ông đỗ tú tài, năm 1837 đỗ cử nhân và năm sau (1838, lúc 33 tuổi) đỗ Hoàng Giáp, nên còn được người đời gọi là ông Hoàng Tam Đăng.

[sửa] Trước khi Pháp đến

Sau khi đỗ đạt cao, ông được sung chức Tu soạn viện Hàn lâm rồi Tri phủ Lý Nhân. Ở đấy, hễ dân có việc tranh tụng, thì ông thường lấy điều nhân nghĩa để khuyên bảo; vậy mà, có lúc ông bị giáng đến ba cấp.[2], sau lại được trở về Biên tu ở Quốc sử quán.

Năm 1845, ông cáo bệnh từ quan về nhà mở trường dạy học. Nơi ông ở gần cửa biển Đại An, thấy đất gần cửa biển bỏ hoang, ông bèn chiêu tập người cùng làng đến khai khẩn, lập ấp, đặt tên mới là trại sĩ Lâm. [3].

Năm 1857, ông lại được mời ra giữ chức đốc học Nam Định (nay gồm hai tỉnh Thái BìnhNam Định).

[sửa] Khi Pháp đến

Năm Tự Đức thứ 11 năm Mậu Ngọ (ngày 1 tháng 9 năm 1858), Pháp đánh chiếm Sơn Trà (Đà Nẵng), dù đang có bệnh, Phạm Văn Nghị vẫn quyết định tạm giao công việc cho bạn đồng khoa là tiến sĩ Doãn Khuê, gửi Trà Sơn kháng sớ (Sớ kháng nghị việc Sơn Trà) lên vua, rồi cùng học trò và một số sĩ phu yêu nước ở Nam Định, lập ngay một đội quân nghĩa dũng gồm 365 người để xin vua cho vào Đà Nẵng đánh Pháp.

Nhưng khi đội quân nghĩa dũng tới Huế, thì quân Pháp đã rút khỏi Đà Nẵng để vào đánh Gia Định. Vua Tự Đức không chuẩn y sớ của ông xin tiếp tục được vào Nam đánh đuổi ngoại xâm, mà chỉ ban lời khen ngợi, nên ông đành phải quay về.[4].

Tuy vậy, nghĩa cử này đã làm rúng động cả sĩ phu Nam Bắc[5]

Về tới đất Bắc, Phạm Văn Nghị tiếp tục làm chức việc cũ. Khi ấy, có nhóm thổ phỉ người Trung Quốc tràn sang quấy nhiễu ở vùng Đông Bắc, ông đem ngay số nghĩa dũng vừa chiêu mộ được, đến đóng giữ ở đồn Thượng nguyên vài tháng, khi yên mới thôi. Triều đình thăng ông làm Hàn Lâm viện Thị giảng Học sĩ, nhưng ông vì bệnh nên lại xin nghỉ.

Năm 1866, ông được sung chức Thương Biện, đóng quân ở Hà Cát để trông coi vùng biển. Năm 1873, ông lại thăng Thị độc Học sĩ, được ban thẻ bài bằng vàng. Mùa đông năm ấy, Pháp đem quân đánh chiếm Hà Nội, rồi đánh luôn Nam Định.

Bấy giờ tuy đã 68 tuổi, Phạm Văn Nghị vẫn tổ chức dân binh chặn đánh đối phương ở ngã ba Độc Bộ. Do quân ít, chống không nổi, ông cho rút nghĩa quân về lập căn cứ ở Yên Hàn (Ý Yên).

[sửa] Về ở ẩn

Khi hiệp ước Giáp Tuất được ký vào ngày 15 tháng 3 năm 1874, trong đó có điều khoản triều đình Huế phải giao đứt toàn bộ Nam Kỳ cho Pháp. Biết được tin này, ông bực tức, buồn bã viện cớ tuổi cao, xin về dưỡng lão, mặc dù ông vừa được sung làm Thương Biện Nam Định.

Sau triều đình truy xét lại việc để thành Nam Định bị thất thủ, Phạm Văn Nghị bị tước đoạt hết mọi chức tước, bổng lộc.

Ông về ở ẩn, sống đạm bạc, nơi động Hoa Lư, Ninh Bình, lấy hiệu là Liên Hoa Động Chủ.

Năm 1884, ông mất vì già yếu. Hay tin, vua chuẩn cho được phục lại nguyên chức hàm cũ là là Thị độc Học sĩ.

[sửa] Ghi nhận

[sửa] Nhân cách

Sử nhà Nguyễn chép:

Phạm văn Nghị cùng với Doãn Khuê (đỗ tiến sĩ cùng khoa với Nghị), được kẻ sĩ đương thời mến phục. Có lần Doãn vào bái yết vua, vua thong thả hỏi chuyện bệnh tình của Nghị rồi cho vàng và tiền để mua thuốc men, lại dụ rằng:
Không phải ta khen Nghị về sự tiến thoái nhanh nhẹn, mà là khen về sự khí tiết hơn người, gặp việc là hăng hái làm…”

Tuy ở ẩn, nhưng ông Nghị luôn tự trách mình chưa làm hết chức trách với nước, với dân. Có người biết được tấm lòng ông, tâu chuyện lên vua. Vua ban cho ông 100 lạng bạc và dụ rằng:

An cư, dưỡng lão, dạy bảo hiền tài, thế cũng đã là lo báo đáp, không nên tự cho như thế là chưa đủ. (Đại Nam chính biên liệt truyện, nhị tập, quyển 33).

Năm ông 70 tuổi, nhiều người có liễn đối, thơ mừng thọ, trong số đó có câu của Tống Duy Tân:

Phong lãng kỉ hồi, đại nghĩa ná tri đầu phát bạch,
Giang sơn vô dạng, cố viên nhưng hữu cúc hoa hoàng.
Dịch:
Sóng gió nhiều phen, nghĩa lớn sá chi đầu tóc bạc;
Giang sơn yên ổn, vườn xưa còn đấy luống hoa vàng.

[sửa] Văn chương

Phạm Văn Nghị viết nhiều và chủ yếu đều bằng chữ Hán.

Tác phẩm gồm có: Tự ký, Tùng Viên văn tập, Nghĩa Trai thi văn tập, Trừ văn hịch (hịch trừ muỗi). Về chữ Nôm, ông có bài Tứ thành thất thủ ca (phú kể lại việc Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất) và một số bài thơ khác ông làm khi về ở ẩn.

Thơ văn yêu nước của ông biểu lộ thái độ căm thù kẻ xâm lược sâu sắc, đả kích không thương tiếc những quan lại yếu hèn. Nhưng qua đó, người đọc cũng dễ dàng thấy ở ông một tấm lòng yêu dân thiết tha, lòng kính trọng những anh hủng liệt sĩ đã dám xả thân vì nghĩa lớn.

Về cuối đời, thơ ông nặng về tư tưởng nhàn, song tấm lòng son sắt với dân, với nước thì không hề phai nhạt…[6]

[sửa] Giáo dục

Nhờ công ông dạy dỗ, nhiều học trò của ông sau này hiển đạt cao, nhiều người trở thành lãnh tụ của phong trào Cần Vương, như: Nguyễn Khuyến, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Nguyễn Cao, Lã Xuân Oai, Vũ Hữu Lợi, Phạm Nhân Lý…

Và con trưởng ông là Phạm Văn Giảng, thi Hội đỗ phó bảng, làm quan đến chức Bố chánh Thanh Hóa, các con thứ là Phạm Văn Hân, Phạm Văn Hàm, Phạm Văn Phả đều thi đậu Cử nhân.

[sửa] Tưởng nhớ

Phạm Văn Nghị mất, có rất nhiều câu đối, thơ điếu. Trích:

Câu đối của Tống Duy Tân:

Phu tử tiên thiên hạ chi ưu, kỷ độ thăng trầm thân thế;
Đệ tử thị tiên sinh do phụ, bách niên tồn một thủy chung.
Nguyễn Văn Huyền dịch:
Tiên sinh lo việc trước người đời, thân thế nổi chìm ôi mấy độ;
Đệ tử coi thầy như thân phụ, mất còn chung thủy mãi trăm năm.
Câu đối khuyết danh:
Tích yên, nghĩa lỗ nhân can, Độc Bộ ba đào câu nộ sắc;
Kim dã, nghiêm sương hàn lộ, Hoa Lư thảo thụ đối sầu nhan.
Nguyễn Văn Huyền dịch:
Xưa chèo nghĩa buồm nhân, Độc Bộ cồn cồn sóng giận;
Nay băng đông sương giá, Hoa Lư ảm đạm cây sầu.[7]

Và để ghi nhớ công đức của Phạm Văn Nghị, nhân dân đã lập đền thờ ở Sĩ Lâm và ở Tam Đăng. (Cả hai nơi này đều được công nhận là di tích lịch sử văn hoá). Hàng năm lễ hội tưởng niệm được tổ chức tại Sĩ Lâm (xã Nghĩa Lâm) vào ngày 14 và 15 tháng Giêng Âm lịch, và tại Tam Đăng vào ngày 12 tháng 12 Âm lịch.

Ngoài ra, tên ông còn được chọn để đặt tên cho nhiều đưởng phố trong cả nước.

[sửa] Một bài thơ

Độ Hàm giang khẩu chiếm
Hà sự độ hàm giang?
Tiếu ngã lão hưu hĩ.
Ba tĩnh vân như luyện,
Triều bình thủy tự lam.
Kỳ quang tương thướng há,
Kiếm sĩ bán đông nam.
Báo quốc đan tâm tại,
Ninh tri lực bất kham.
(Phạm Văn Nghị)
Khẩu chiếm khi qua sông Hàm
Nực cười cho cái thân già,
Hưu rồi, sao vẫn phải qua sông Hàm?
Sóng êm, mây tựa bức rèm,
Triều lui, nước vẫn màu lam xanh rờn,
Bóng cờ lên xuống chập chờn,
Nửa phần chiến sĩ ở miền đông nam.
Tấm son báo nước chưa cam,
Bẵng qyên sức đã không kham được rồi.
(Đỗ Ngọc Toại dịch)[7]

[sửa] Chú thích

  1. ^ Năm mất ghi theo web Từ điển Bách Khoa[1] và web Họ Phạm [2]. Riêng sách Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh, tập IViệt sử giai thoại tập 8 ghi: 1881, Từ điển nhân vật lịch sử Việt NamHỏi đáp lịch sử tập 4 cùng ghi: 1880.
  2. ^ Ghi theo Đại Nam chính biên liệt truyện (nhị tập, quyển 33) và Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, sách đã dẫn. Không thấy các sách cho biết lý do Phạm Văn Nghị bị giáng.
  3. ^ Trại Sĩ Lâm sau thành Tổng Sĩ Lâm, nay là ba xã: Nghĩa Lâm, Nghĩa Hùng, Nghĩa Hải, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
  4. ^ Trên đường về, ông có sáng tác bài Thoát lỗi ca (Bài ca lui giặc) trong đó có nhiều câu thơ đầy tự hào và khí phách.
  5. ^ Ghi theo Từ điển văn học (bộ mới).
  6. ^ Triêu Dương, Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới, 2004, tr. 1377.
  7. ^ a b Chép theo Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh.

[sửa] Tài liệu

(Dùng để tham khảo và đối chiếu)
  • Đại Nam chính biên liệt truyện (nhị tập, quyển 33).
  • Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới, 2004
  • Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh, tập I do Hội VHNT tỉnh biên soạn (NXB. KHXH, Hà Nội, 1981).
  • Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1858 - 1920, Huỳnh Lý chủ biên, NXB. Văn học, 1984.
  • Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế, NXB KHXH, 1992.
  • Việt sử giai thoại tập 8, Nguyễn Khắc Thuần, NXB Giáo dục, 1998.
  • Hỏi đáp lịch sử tập 4, NXB Trẻ, 2007.
  • Và các web liên kết ngoài.

[sửa] Liên kết ngoài


system wymiany linków SEO Tools system wymiany linków SEO Tools SEO Tools kreatyna Gry Online Plaza 3 star hotel Los Angeles krynica noclegi Kredyty odnawialne