Nguyễn Văn Thiệu

Nguyễn Văn Thiệu
Nguyễn Văn Thiệu
Thứ tự Tổng thống thứ 5 Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ 19651975
Tiền nhiệm Phan Khắc Sửu
Kế nhiệm Trần Văn Hương
Ngày sinh: 5 tháng 4, 1923(1923-04-05)
Nơi sinh Thanh Hải, Ninh Thuận
Ngày mất 29 tháng 9, 2001 (78 tuổi)
Nơi mất Boston, Massachusetts

Nguyễn Văn Thiệu (5 tháng 4, 1923  – 29 tháng 9, 2001) là Quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa thời kỳ 19651967Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà thời kỳ 19671975.

Mục lục

[sửa] Tiểu sử

Nguyễn Văn Thiệu và Tổng thống Mỹ L.B. Johnson
Nguyễn Văn Thiệu và Tổng thống Mỹ L.B. Johnson

Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5 tháng 4 năm 1923, tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

Sau khi tốt nghiệp lớp 9, ông lên Sài Gòn để học nghề. Tuy nhiên, không lâu sau, ông đăng ký vào khóa đầu trường Sỹ quan quân đội Việt Nam, sau trở thành trường Võ bị Đà Lạt. Năm 1949, ông tốt nghiệp với quân hàm Thiếu úy, tham gia binh nghiệp trong lực lượng người Việt trong quân đội Liên hiệp Pháp.

Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam, năm 1955 ông gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, với quân hàm Trung tá, giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt. Đến năm 1962, ông giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh, hàm Đại tá.

Năm 1963, ông tham gia lực lượng đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Sau đảo chính, ông được phong hàm Thiếu tướng.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quan sát bản đồ Đông Á
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quan sát bản đồ Đông Á

Khi tướng Nguyễn Khánh thực hiện "chỉnh lý", nắm quyền lãnh đạo chính quyền, ông được cử giữ chức Tham mưu trưởng sau đó được cử giũ chức Tổng trưởng Quốc phòng. Năm 1965, ông được thăng Trung tướng. Cũng năm này, chính phủ của Thủ tướng Phan Huy Quát đã giải tán và trao quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Hội đồng tướng lĩnh. Hội đồng tướng lĩnh đã bầu ông giữ chức Chủ tịch "Hội đồng lãnh đạo Quốc gia" và tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch "Ủy ban Hành pháp Trung ương". Ông trở thành Quốc trưởng và tướng Kỳ trở thành Thủ tướng của chính phủ mới.

Năm 1967, Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm tổng thống, với 38% số phiếu. Ông giữ chức này cho đến khi chính quyền Sài Gòn sắp sụp đổ vào đầu năm 1975 (Xem Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975). Thời kỳ này chính phủ Việt Nam Cộng Hoà cần sự giúp đỡ của Hoa Kỳ nhiều hơn chính phủ của Ngô Đình Diệm. Ông Thiệu là người sáng lập đảng Dân chủ (Việt Nam). Ông đã tập trung quyền lực vào ngành hành pháp, làm suy yếu quyền của ngành lập pháp (quốc hội).

Năm 1969, Tổng thống Thiệu kêu gọi hòa bình bằng cách đề nghị bầu cử bao gồm cả lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng phó Tổng thống Kỳ đã cảnh báo rằng bất kỳ nỗ lực nào để Liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đều rất nguy hiểm. [1] Cũng trong năm này, Nguyễn Văn Thiệu đã vượt quyền hiến pháp, cụ thể là điều luật quy định sự bất khả xâm phạm của dân biểu, để bắt giữ và mở tòa án quân sự kết án dân biểu Trần Ngọc Châu 10 năm khổ sai, sau khi vị dân biểu này đề nghị lập một đoàn gồm các nhà lập pháp Việt Nam Cộng hòa ra Bắc để đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2]

Năm 1971, Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử tổng thống. Sau cố gắng không thành công của Nguyễn Văn Thiệu nhằm gạt Nguyễn Cao Kỳ ra khỏi cuộc đua, Dương Văn Minh rút lui không tiếp tục tham gia tranh cử, Nguyễn Cao Kỳ từ chối thế chỗ ông. Cuối cùng, cuộc bầu cử trở thành một cuộc trưng cầu dân ý mà Nguyễn Văn Thiệu đạt được 94% số phiếu.[3]

Năm 1973, sau khi ký kết Hiệp định Paris, Mỹ triệt thoái hoàn toàn quân đội ra khỏi miền Nam. Một thời gian ngắn sau đó Hoa Kỳ cũng cắt giảm hầu hết các kinh phí viện trợ cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa khiến khả năng quân sự của chính quyền bị suy giảm nặng. Tháng 3 năm 1975, sau khi Ban Mê Thuột (nay gọi là Buôn Ma Thuột) bị quân đội chính qui miền bắc đánh chiếm, quân đội miền nam phản kích thất bại, Nguyễn Văn Thiệu tỏ ra lúng túng và quyết định rút bỏ cao nguyên. Sai lầm chiến lược đó đã đưa đến những cuộc tháo chạy hỗn loạn khỏi các tỉnh Tây Nguyên và bị Quân giải phóng miền Nam tấn công gây thiệt hại nặng. Sau đó các tỉnh miền Trung cũng thất thủ.

Khi Quân giải phóng miền Nam sắp giành được chiến thắng, ông từ chức vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, 9 ngày trước khi Việt Nam Cộng hòa đầu hàng vô điều kiện. Phó tổng thống Trần Văn Hương thay làm tổng thống.

Đêm 25 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu rời Việt Nam với tư cách là đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch. Sau đó, ông đến Anh định cư. Ông sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại và qua đời vào ngày 29 tháng 9 năm 2001 tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ.

[sửa] Nguyễn Văn Thiệu và Hiệp định Paris

Ông chính là người phản đối quyết liệt nhất việc ký kết Hiệp định Paris vào lúc đó, vì theo ông việc đó sẽ làm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có được lợi thế đáng kể so với Việt Nam Cộng hòa. Cụ thể là người Mỹ sẽ chấm dứt những cam kết và ủng hộ của mình đối với Việt Nam Cộng hòa, đồng nghĩa với việc viện trợ cho chính phủ của ông bị cắt giảm và ưu thế quân sự sẽ nghiêng về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nguyễn Văn Thiệu đã cố tình trì hoãn việc đồng ý ký kết hiệp định, nhưng phía Mỹ đã có quyết định dứt khoát về việc này và gây áp lực cho chính phủ của ông, trong thư của Tổng thống Nixon gửi ông vào ngày 16 tháng 1 có đoạn: "Tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt hiệp định vào ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần tôi sẽ làm đúng như nói trên một mình. Trong trường hợp đó tôi phải giải thích công khai rằng chính phủ của ông cản trở hòa bình. Kết quả sẽ là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự thay đổi nhân sự trong chính phủ của ông khó mà nói trước". Kết quả là Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận ký kết hiệp định một cách miễn cưỡng, mặc dù đã được phía Mỹ cam kết sẽ đảm bảo sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa.

[sửa] Nhận xét

Nguyễn Văn Thiệu đã bị phê phán về sự liêm khiết trong khi tại chức tổng thống, cũng như về khả năng lãnh đạo quân sự. Mặt khác, ông cũng đã có ý kiến chống đối với chính phủ Mỹ về văn bản chính thức của Hiệp định Paris, thực tế sau này cho thấy nhận thức của ông về sự thất bại có thể xảy ra cho miền Nam nếu chấp nhận văn bản đó là đúng đắn. (Cuối cùng, dưới áp lực của Mỹ, chính phủ của Việt Nam Cộng hòa đã bị buộc kí vào hiệp định Paris).

Vào năm 1992, ông đã lên tiếng tố cáo sự xích lại gần nhau giữa chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam[cần dẫn nguồn] nhưng ít lâu sau ông lại có ý muốn tham gia vào các cuộc thảo luận hòa giải dân tộc, điều này đã làm một số người cực đoan tức giận, còn tướng Trần Văn Đôn nhận xét qua hồi ký của mình[cần dẫn nguồn] (xuất bản năm 1997) thì ông Thiệu là người thức thời với chủ trương đối thoại với người trong nước.

[sửa] Đánh giá của người trong cuộc

Tướng Cao Văn Viên, trong một cuộc phỏng vấn lúc cuối đời, đã có một số nhận xét về Nguyễn Văn Thiệu cũng như so sánh giữa Nguyễn Văn Thiệu và Ngô Đình Diệm:

"Mỗi người độc tài theo cách riêng. TT Diệm cai trị nước như một quan lại của thời quân chủ, ông bẩm sinh chống cộng, tự ban cho mình “thiên mạng” cứu nước. ”

TT Diệm tự hào về dân tộc, tự đại về gia đình, thích độc thoại, không chấp nhận dễ dàng sự chỉ trích. Ông chủ trương “tiết trực tâm hư ” nhưng bị ảnh hưởng nặng của gia đình. Còn ông Thiệu thì theo đường lối “độc tài trong dân chủ”, vỏ ngoài dân chủ nhưng bên trong chi phối cả hai ngành lập pháp và tư pháp. Bàn tay sắt trong đôi găng nhung.

Vì không vững kiến thức như ông Diệm, ông Thiệu chịu khó thăm dò ý kiến của các chuyên viên, lắng nghe, đúc kết lại để quyết định một mình. TT Diệm dễ tin người xu nịnh nên dễ bị phản trắc. Ông Thiệu đa nghi Tào Tháo và không e ngại ban phát ân huệ để tạo phe cánh và chia rẽ đối phương như ông đã làm tại Quốc hội. Ông chủ trương “làm chính trị phải lì”. Bởi thế TT Thiệu “lật” ông Kỳ không khó và tồn tại lâu hơn TT Diệm nhưng ông không khí khái bằng ông Diệm. Ông Thiệu mưu sĩ, ông Diệm đạo đức. Những năm tại chức, Ông Thiêu bị ám ảnh bởi cái chết của TT Diệm. Đảng Cần Lao - dựa vào thuyết Cần Lao Nhân Vị - tổ chức quy củ hơn, với sự chỉ huy trực tiếp của hai ông Nhu và Cẩn, đi sâu vào Quân Đội với các quân ủy, như CS. Đảng Dân chủ yếu hơn, không dựa vào cương lĩnh vững chắc nào, chỉ có hình thức, được ông Thiệu thành lập để củng cố địa vị, không có ảnh hưởng trong Quân đội và quần chúng. "

[4]

[sửa] Câu nói nổi tiếng

  • Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm!
  • Ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản - Biếm chỉ Cộng sản nằm vùng khủng bố miền Nam Việt Nam trước năm 1975
  • Công đức ngàn đời con tố mẹ, tình nghĩa trăm năm vợ tố chồng - Biếm chỉ chính sách đấu tố của Cộng sản
  • Đất nước còn, còn tất cả; cộng sản thắng, mất tất cả.
  • Tôi mà tham nhũng thì cái chính phủ này sẽ sụp đổ chỉ trong 3 ngày!
  • Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!
  • Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó.
  • Sống không có tự do là đã chết.
  • Mỹ còn viện trợ, thì chúng ta còn chống cộng.

[sửa] Giai thoại 16 tấn vàng

Trước và sau năm 1975 báo chí loan tin tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước khi ra đi đã mang theo 16 tấn vàng là tài sản quốc gia. Giai thoại này lan truyền rất rộng rãi nhưng không có xác nhận hay phủ nhận chính thức của chính quyền. Đến năm 2006, báo Tuổi trẻ đã thực hiện một loạt phóng sự điều tra xác nhận rằng toàn bộ số vàng (1234 thỏi) và tiền mặt (hơn 1000 tỷ đồng) đã được bàn giao cho Ban Quân quản "khớp với sổ sách từng chi tiết nhỏ".[5]

Ông Lữ Minh Châu nguyên Trưởng ban Quân quản các ngân hàng Sài Gòn - Gia Định, là người tổ chức tiếp quản toàn bộ tiền, vàng của chế độ Sài Gòn cũ cũng xác nhận 16 tấn vàng, tiền dự trữ và châu báu, nữ trang còn nguyên và được chuyển vào tài sản quốc gia.[6]


[sửa] Ghi chú

  1. ^ Chiến tranh Việt Nam-Được và Mất-Nigel Cawthorne-NXB Đà Nẵng, tr. 344
  2. ^ Frances FitzGerald, Fire in the Lake, Vintage Book, New York, 1972, p. 513
  3. ^ Frances FitzGerald, p. 528
  4. ^ Nguồn: http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=326331 Mạn đàm với Đại tướng Cao Văn Viên- Lâm Lễ Trinh
  5. ^ Câu chuyện 16 tấn vàng tháng 4-1975
  6. ^ Người "buôn tiền" thành bộ trưởng 04/10/2006
Tiền nhiệm:
Phan Khắc Sửu
Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa
14 tháng 6, 1965 đến 21 tháng 4, 1975
Kế nhiệm:
Trần Văn Hương (Quyền tổng thống)



[sửa] Xem thêm

[sửa] Liên kết ngoài


SEO Tools wymiana linkami wymiana linkami tanie kredyty gotówkowe kreatyna Plaza 3 star hotel Los Angeles krynica noclegi Sejm Tyk